kéo theo kết quả cùng khí lực. Đàn ông tới khi 60 tuổi thì tinh ít dần cho đến khi 70 tuổi thì chỉ còn một phần ba so với khi mình vào lúc 30 tuổi. Vì vậy kiên cữ xuất tinh lúc 60 tuổi là điều vô cùng hợp lý. 
Bác sĩ Kim Soai cho rằng đàn ông 75 tuổi ba tuần mới giao hợp một lần. Khi đến 80 tuổi thì hai tháng mới nên lâm trận. So sánh với kinh Tố Nữ thì có sự khác biệt. Điều này dễ hiểu vì có sự biến chuyển của đời sống con người qua thời gian. Con người từ lúc kinh Tố Nữ xuất hiện đến nay đã mạnh hơn về nhiều phương diện, nhất là phương diện sức khoẻ. 
Sách vở có ghi triết gia Hy Lạp Socrate giao hợp cách mười ngày một lần. Trong khi đó đạo cơ Đốc ghi là nên mỗi tuần một lần thôi. Hai con số này khác nhau và lời khuyên lại không căn cứ trên tuổi tác của con người, một vấn đề quan trọng mà kinh Tố Nữ có nói. 
Sách "Dưỡng Sinh Yếu Luận", một quyển sách của đạo gia có ghi chuyện đạo sĩ Lưu Kinh. 
Mùa xuân 3 ngày giao hợp có xuất tinh một lần. 
Mùa hạ, mùa thu thì một tháng hai lận 
Mùa đông không nên xuất tinh. 
Lưu Kinh cho rằng sinh hoạt phòng trung tuỳ theo mùa mà phù hợp với sinh hoạt của thiên nhiên. Nguyên tắc của thiên nhiên là "Xuân xanh Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn". Mùa Đông thì thu về, tàng trữ, không cho ra vì không thể sinh sôi nẩy nở được. Quan niệm giao hợp liên hệ với mùa trong năm chỉ thấy ở đạo gia mà thôi. 
Sách "Dưỡng Sinh Tập"cũng có ghi tương tự như sách "Dương sinh yếu luận"chỉ thêm một điều là:"Mùa Đông xuất tinh một lần bằng mùa Xuân xuất tinh một trăm lần"vì mùa Xuân dương khí hạnh mậu, sung mãn, trong khi đó mùa đông là mùa của âm khí. Đáng lẽ mùa này nên tránh giao hợp để phù hợp với thiên nhiên. 
Sách "Động Huyền Tử" nói rằng phải bão tín và bão tinh nên trong khi giao hợp thì phải quan sát nữ nhân một cách cẩn thận. Đừng quá chú trọng đến tiết giảm xuất tinh mà quên đi sự hoan lạc của phái nữ. Cần phải cho hai bên cùng đạt đến cực đĩnh mà vẫn tiết tinh thì mới tốt. 
Nhưng làm thế nào để đạt tiêu chuẩn đó? Sách đưa ra phương pháp như sau: 
- Dương vật đâm nhè nhẹ, không xốc nỗi, không hùn hụt. 
- Chỉ đâm cạn vùng âm hạch và thành âm đạo không cần lút cán tới đầu tử cung. 
- Nhắm mắt dưỡng thần trong khi đâm rút. 
- Cong lưng, cúi đầu. 
- Nở rộng lổ mũi. 
- Mở rộng hai vai ra 
- Ngậm miệng hít hơi vào buồng phổi, càng hít vào nhiều càng tốt. 
Nếu áp dụng phương pháp này mà vẫn xuất tinh thì chỉ xuất tinh ba phần mười tinh dịch mà thôi. Như vậy cũng đạt được khoái lạc đồng thời vẫn đạt được nguyên tắc tiết giãm tinh khí (tiết tinh) 
Ta thấy đây chỉ là phương pháp hô hấp. Thực hành phương pháp hô hấp thì thần kinh điều khiển sự xuất tinh không còn hoạt động hữu hiệu nữa, ngày nay người ta dùng nhiều phương pháp này.Nhưng điều quan trọng nằm ở chỗ vừa luyện tập vừa tự tin. Luyện tập thuần thục vì đây là tập hợp của nhiều động tác chống lại một phút tràn trề của cơ thể. Có ý chí tin rằng mình thắng cơ thể mình, mình làm được chuyện đó. 
Thuốc cường dương

Nguyên tắc chủ điểm của thuật phòng trung "dĩ nhân bổ thân" hay "dĩ nhân trị nhân"nghĩa là áp dụng nghệ thuật thế nào có thể hút tinh khí của người đang giao hợp với mình để bảo tồn mình. Nguyên tắc này không thích đáng với sinh lý, bởi vậy để bổ khuyết người đời dùng thêm dược liệu để bổ tinh. 
Ngày xưa người ta có thể áp dụng những điều mà con mắt ngày nay có thể coi là dị đoan. Bỏ đi yếu tố này, dược liệu và những toa thuốc đưa ra tronh kinh Tố Nữ có thể dùng như những toa thuốc bổ tinh cường dương rất tốt. 
Thái Nữ hỏi: "Đạo giao hợp ta đã nghe, đã biết, ta cũng biết rằng muốn dưỡng tinh cần phải phục dược (uống thuốc) vậy thì dùng những dược liệu nào thì có hiệu quả?" 
Bành Tổ đáp: "Nếu muốn cường tráng, trẻ mãi không già, việc phòng sự vui thú mãi mà không mệt mỏi, khí lực và dung mạo lúc nào cũng sinh tươi không suy giãm thì dùng nhung lộc (sừng nai) là tốt nhất." 
GHI CHÚ : 
Đơn thuốc dùng sừng nai như thế nào? 
Lấy sừng nai cưa ngang cho bằng mặt, mài thành bột rồi thấm vào sanh phù tử (loại hình bát giác). Mỗi ngày dùng hai lần, mỗi lần dùng một muỗng canh. Kết quả trông thấy trong một thời gian ngắn độ hai mươi ngày. 
Để cho đơn giản người ta chỉ dùng sừng nai không mà thôi. Đem sừng nai đốt tới khi sừng trở thành màu vàng thì cà ra thàng bột, mỗi lần dùng thì pha vào nước. Dùng cách này thì cũng có hiệu quả nhưng chậm, không thể mau như cách dùng sanh phù tử. 
Người ta còn dùng phục linh sản xuất tại tỉnh Cam Túc bên trong Trung Quốc thêm vào bột sừng nai, mỗi thứ một dung lượng ngang nhau. Mỗi ngày dùng ba lần, mỗi lần dùng một muỗng canh. Kết quả cũng rất khả quan. 
Sách xưa cũng ghi cách chế và công dụng của sừng nai theo lời chỉ dẫn của Thái Nữ. 
Sừng nai muốn loại tốt thì phải lựa thứ sản xuất ở miền Bắc Trung Hoa. Loại nai con có sừng mới nhú màu đỏ, sừng loại này kêu là lộc nhung, lộc nhung thì hữu hiệu vô song. Các loại khác không thể nào sánh bằng . 
Các bộ phận khác của nai cũng có công những dụng cho cường dương , tráng tinh: thịt nai, máu nai, bào thai nai con trong bụng, gân, đuôi, dương vật đều là những thứ có tác dụng. 
Vua chúa xưa ở Trung Hoa thường ưa dùng thịt nai. Sách tiền Hán như chép Hán Cao Tổ mỗi ngày hai lần sáng chiều ăn bao tử nai (lộc tì). Ông cho rằng ăn htứ này làm cho con người mạnh mẽ hăng hái, khi "lâm trận" không khi nào chiến bại. Đối với Cao Tổ thứ bao tử nai là thứ bổ dược cường dương vô địch. 
Dương vật nai thì phải cắt thật xa lên tận ngọn, cắt cả sợ gân trong mình nai chớ không phải chỉ phần ngoài cùng của dương vật mà thôi. đem sợ gân đó thái ra từng miếng mõng phơi khô dùng làm mồi nhắm rượu. 
Huyết nai thỉ phải lấy kim chích nơi đầu sóng mũi của nai để máu chảu ra mà hứng. Thêm vào máu này nhân sâm, pha thêm chút rượu cho đễ uống. Mỗi ngày uống một chung nhỏ. Có thứ thuốc này thì mỗi ngày "trèo đèo" một lần vẫn không thấy mệt. 
Trong giới săn bắn còn tương truyền là ăn thường thịt nai và uống máu nai thì mỗi ngày giao hợp và xuất tinh hai lần mà vẫn không thấy hề hấn gì, vẫn mạnh khoẻ như thường không mệt mỏi. Sách Nhật có chép chuyện một người thợ săn ở vùng Bắc Hải đảo có cả thảy mười một người vợ mà tất cả đều ly dị lý do vì ông ta rất mạnh trong việc giao hợp, các bà lần lần rút lui, vì không sao chịu nỗi sự đòi hỏi của ông ta. Họ hoảng sợ về sự cường dương vô địch, có thể lên bất cứ lúc nào của ông ta. 
Bên trong có nói dùng sừng nai vơí sinh phù tử. Sinh phù tử là một chất độc, nhưng phối hợp với lộc nhung hay phục linh thì không còn độc nửa mà còn bổ dương cường tinh. 
Quan niệm của Trung Quốc về thuật phòng trung là tự ta là cho ta mạnh tinh cường dương, không ai sinh ra đời mà sinh lý tự nhiên mạnh. Phải tập luyện, phải dùng đúng thuốc,phải theo những cách điều chế được chỉ dẫn. Bành Tổ nói dùng dược liệu là trong ý nghĩa đó. 
Toa thuốc trừ bệnh luôn đòi xác thịt

Khi hoàng Đế hỏi về toa thuốc trị bệnh cho một người luôn luôn đòi hỏi xác thịt, không bao giờ thỏa mãn. Tố Nữ kể câu chuyện như sau: 
"Có một nữ nhân tuổi đã 30 nhưng việc tình dục đòi hỏi như thiếu nữ mới ngoài 20. Nàng luôn luôn cần gần gũi đàn ông, không có dương khí trong mình thì nàng không sao chịu được, âm hộ nước nôi dầm dề nhiều khi chảy ra ướt cả quần." 
Lý do có sự kiện này là vì trong âm hộ của nàng có một loại trùng làm tổ. Đó là loại trùng thật nhỏ (cở 3 phân Tàu), hình đuôi ngựa. Trùng này có 2 loại, đầu đỏ và đầu đen. Loại đầu đỏ không linh hoạt bằng loại đầu đen. 
Trị bệnh này thỉ dung phương pháp như sau: Dùng một mì nấu chín, vo thành một vật giống như dương cụ lớn nhỏ tùy theo ý thích của bệnh nhân, chế vô đó một ít nước tương, đâm vô đâm ra nơi âm hộ đến một lúc thì các con trùng đó cũng theo ra. Cứ tiếp tục như vậy như là giao hợp với nam nhân, tới khi lấy hết tất cả trùng ra. Thường trùng này làm tổ thì độ 30 con trong một âm hộ. 
GHI CHÚ: 
Chuyện của Tố Nữ khó tin nhưng cũng chẳng qua chỉ là cach thỏa mãn dục tình của nữ nhân với lời tư an ủi rằng đó là một phương thức chửa bệnh xấu của mình mà ngày nay phụ nữ Tây phương thường dùng với dụng cụ tương tợ. 
Ngày nay các bệnh về tình dục không thỏa mãn có 2 loại: 
- Đàn bà mắc bệnh đòi hỏi không bao giờ biết thỏa mãn và lãnh cãm. 
- Đàn ông tảo tinh (xuất tinh quá sớm tức là khóc ngoài quan ải) và vô năng (bất lực, không làm nên trò trống gì). 
Cả 4 trường hợp đều là bệnh này tương phản với bệnh kia ở trong một tính phái. Bệnh sanh ra do việc giao hợp quá mạnh bạo, gấp rút mà ra. Vậy để chữa bệnh này cần phải dùng vật lý trị liệu (thuốc men) và tinh thần trị liệu. 
Trời sinh ra nam nhân khác với nữ nhân, tính dục dễ dàng bị kích thích. Nhưng người dễ bị kích thích quá thì có hại vì hứng tình lên nhanh thì xìu xuống cũng nhanh. Trong trường hợp này bệnh dễ mắc là tảo tiết. Mắc chứng này rồi thì sớm muộn gì cũng mắc chứng vô năng. Người vợ của bệnh nhân này vì không được thỏa mãn khi giao hợp với chồng nên bị măc chứng lãnh cãm. 
Tóm lại loại bệnh này là bệnh làm cho sự giao hợp suy nhược. Trái với vô năng và lãnh cãm là giao hợp bao nhiêu lần không tháy đủ, không muốn nghĩ. Đây cũng là một loại bệnh cầ chữa trị. 
Toa thuốc trừ bệnh tảo tiết hay vô năng là toa thuốc Ủy kê tán (thuốc bột ) hay Ủy kê hoàn (thuốc viên). Toa thuốc gồm: 
Nhục tùng dung 3 phân 
Ngủ vị tử 3 phân 
Viễn chí 3 phân 
Xà sàn tử 4 phân 
Thố ty tử 3 phân 
Đem cả 5 loại nghiền thành bột, mỗi ngày đến lúc bụng đói thì dùng một muỗng canh, hoặc pha trong rược, hoặc thêm mật mà vò thành viên. Thuốc rất hiệu nghiệm, không có nữ nhân bên cạnh để sẳn sàng gầy cuộc vui thì không nên dùng thuốc này. Trong vòng 60 ngày uống thuốc này thì có thể hạ ngã 40 người đàn bà khác nhau dễ dàng. 
Truyện kể có một người Thái thú tại Tứ xuyên tên là Lữ Kính Đại, ông ta dùng thuốc này vào những năm đã quá 70 tuổi vậy mà vẫn sinh được thêm 3 người con nữa. Sách cũng kể là khi ông dùng thuốc thì sự giao hoan quá mạnh khiến cho phu nhân sinh ra nhiều bệnh chứng, âm hộ đau nhức, phu nhân không thể ngồi được. 
Không muốn sử dụng thuốc này nữa, ông Thái thú đem bỏ ra sau vườn. Một con gà trống ăn phải liền trèo lên đạp mái một con gà tơ, gà